Tiểu kiếm: Miniature cymbidium

Loài lan địa lan nhỏ này thường mọc ở các nước Á châu như: Hàn quốc, Nhật bản, Trung Hoa, Miến điện và Việt nam.

Theo sử sách, người Trung Hoa đã biết đến cây lanCymbidium ensifoliumtừ 500 năm trước Tây lịch, đức Khổng Tử đã gọi là Vương giả Chi Hương và họ đã vẽ loài lan này trong các bức cổ họa cả ngàn năm về trước. Họ cũng biết cách nuôi lan và lập ra những trại nuôi trồng từ đời nhà Đường 618-907.

Theo các khoa hoc gia Âu Mỹ chi lan này được gọi là Cymbidium Jensoa gồm 5 giống chính và nhiều biệt dạng (Varieties)








Cymbidium ensifolium(Linneaus) Swartz 1799 (Jian Lan 建兰) là một giống lan mọc suốt từ Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam mà còn có mặt tại Borneo, New Guinea và Phi Luật Tân ở các cao độ khoảng từ 330-1970 m. Mỗi thân có 3-4 lá dài 40-50 cm, ngang rộng 2 -3 cm. Dò hoa cao chừng 30 cm, hoa 2-9 chiếc to khoảng 6.5 cm nở vào mùa thu với hương thơm tuyệt hảo và nếu cây khỏe mạnh sẽ có nhiều dò hoa. Giống lan này có trên 30 dạng khác nhau về hoa và lá mà các khoa học gia chưa xác định được rõ ràng. Những giống lan này rất dễ trồng ở ngoài trời, những nơi có chút ánh nắng it hơn các giống Cymbidium lớn, và không thể ra hoa nếu trồng ở cửa sổ.

Cym. ensifolium (Jian lan)
Cym ensifolium var. Si Ji Lan Cym ensifolium var. Kuan in su xin

Đặc điểm của giống lan này là nhỏ gọn, lá mềm nhỏ và rất hấp dẫn. Hoa có nhiều sắc, nở quanh năm nhưng phần lớn vào mùa hè và mùa thu. Hương thơm ngào ngạt chỉ cần một bông cũng đủ cho một gian phòng.

Cây Cym. Perter pan, Cym. Golden Elf và Cym. Nut HR là 3 trong những cây lai giống từ cây này cho nên thừa hưởng hương thơm của cây mẹ.

Cymbidium faberiRolfe (Hui Lan 蕙兰) nở hoa vào mùa xuân. Trong thiên nhiên hai giống Cym. faberi và Cym. goeringii cùng mọc trong một môi trường có những điều kiện tương tự. Cây Cym faberi rất hiếm tại Hoa Kỳ. Bởi vì giống lan này đòi hỏi một độ ẩm khá cao nhưng lại không chịu được nhiệt độ quá nóng. Giống lan này và giống Cym. goeringii không mọc tại Việt Nam.

Cymbidium goeringii(Rchb. f) 1864 (Spring Orchid, Chun Lan, 春兰) là một giống lan được nhiều người ưa chuộng. Giống này mỗi dò thường chỉ có một bông hoa to chừng 5 cm, thường nở vào mùa xuận. Hương thơm thực là quyến rũ nhưng tiếc rằng hoa không nhiều nhưng toàn diện hoa lá thực là đặc biệt. Giống này có rất nhiều biệt dạng khác nhau, cao thấp 4 đến 6″ hay 10-15 cm. Cánh hoa to hơn và giống như cánh sen (Lotus petaled), 莲瓣 giống này giá rất đắt, một chậu nhỏ có thể tới một vài ngàn mỹ kim.

Cymbidium kanranMakino 1902 (Han lan 寒兰) Người Nhật gọi là lan của xứ lạnh, hoa nở từ tháng 12 đến tháng giêng. Giống lan này mọc trong bóng mát thuộc cao độ 800 cho đến 1800 m. Lá hẹp và dài 25-30 cm. Dò hoa lên thẳng, cao khoảng 50 cm, hoa chừng 7-10 chiếc to từ 5-7.5 cm. Hương rất thơm, sắc hoa mầu xanh hay trằng hay đỏ. Những giống lan Karan có hoa mầu đỏ ở Nhật không có hương thơm. Giống lan này khá khó trồng, vì cần có thứ nấm mychorrizae đặc biệt cho bộ rễ và trồng ở nhiệt độ thấp 50-70°F hay 10-21°C. Theo Orchid species cây này có mọc tại Việt Nam.

Cymbidium sinense(And.) Willd. 1805 (Mo Lan 墨兰) là một cây phổ thông ở nhiều nơi và nhất là ở Việt Nam. Lá rộng hơn và có rất nhiều dạng khác nhau về hoa với lá (variety) nhất là dang lá có sọc (variegated leaves) Giống lan này ưa thích khí hậu ấm áp, nhiều hoa và nở vào dịp Tết Nguyên Đán. Cũng vì vậy mà người Trung Hoa gọi lan này là Bao Sui Lan (Heralding New Year Orchid, 报岁兰). Hương thơm nhẹ không quá ngào ngạt như các giống lan khác. Cymbidium sinense là giống lan dễ trồng nhất và có thể trồng ở cửa sổ hoăc dưới ánh đèn mà vẫn ra hoa. Cây lan này có thể chịu được độ ẩm thấp và mọc dễ dàng với nhiệt độ ấm áp. Dò hoa có thể cao tới 80 cm, gấp đôi cây lan. Hoa to 5 cm và số hoa có thể tới 20 chiếc, hình dáng, mầu sắc và thời gian nở hoa tùy thuộc vào những cây có biệt dạng khác nhau. Cymbidium sinense có những mầu hoa khác nhau: gần như đen (San Chaun) mầu vàng tuyền (Wu tsu tai) mầu đỏ (Ta Minh) cho tới xanh nhạt gần như trắng tuyền (Pai Mu Su). Mầu trắng này được nhiếu người ưa thích và giá đắt hơn cả.

 

CÁCH TRỒNG

NHIỆT ĐỘ
Các giống Cym. goeringii, Cym. faberi và Cym. kanran phải trồng trong nhiệt độ lạnh tức là ban ngày vào khoảng 65-70°F hay 18.3-21°C và ban đêm tối thiểu phải từ 45°F hay 7°C.
Các giống Cym. ensifolium, Cym. sinense có thể sống trong nhiệt độ ấm áp hơn tức là vào 85-90°F hay 29-32°C ban ngày và 60-65°F hay 15-18°C vào ban đêm.
Vào mùa hè, nếu nhiệt độ lên cao cần che bớt ánh nắng.

ÁNH SÁNG
Cần phải che lưới khoảng 60-70 %, vào mùa hè cần tới 80-90% và phải thoáng gió.

ĐỘ ẨM
Độ ẩm tối thiểu cho các giống lan này phải trên 60%, nếu trời qua nóng phải tăng thêm độ ẩm.

THAY CHẬU
Tối thiểu 3 năm phải thay chậu một lần, cắt bỏ rể thối và các củ già. Tránh làm gãy rễ và nên nhớ rằng lúc này dễ bị nhiễm trùng nhất nên cần phải phun thuốc Physan 20. Chậu nên dùng thứ chiều ngang nhỏ và sâu đặc biệt cho lan Tiểu kiếm. Chậu sành tốt hơn chậu nhựa

Quan trọng nhất là vấn đề chon lựa vật liệu nuôi trồng để giữ cho:

• Rễ cây luôn luôn ẩm chứ không ướt.
• Dù cho trời lạnh vật liệu cũng khô dần.
• Bộ rễ được mát mẻ.
• Không có khoảng trống không khí (air pocket) trong chậu

Các giống Cym. goeringii, Cym. faberi và Cym. kanran: nên trồng với vật liệu trồng gồm có: vỏ thông nhỏ 50%, rễ dương sỉ (tree fern) 30%, đá bọt (perlite) 10%, than 10%.

Các giống Cym. ensifolium, Cym. sinense trồng với vật liệu gồm: 40% vỏ thông, 30% rễ dương sỉ, 20% rêu (Sphagnum moss), 10% than.


Trên đây là những kinh nghiệm góp nhặt được sau nhiều năm thất bại liên tiếp. Chúc các bạn thành công mỹ mãn.


Bạn đang xem bài viết Tiểu kiếm: Miniature cymbidium tại chuyên mục [ Các loại hoa lan ] trên website Blogsinhvatcanh.com. Hãy chia sẻ nếu bài viết này hữu ích cho mọi người.

Chia sẻ Facebook Chia sẻ Google